Thứ Bảy, 30 tháng 1, 2021

THƠ ĐƯỢC TẶNG

 

THƠ ĐƯỢC TẶNG

 THƠ VUI TẶNG HAI NHÀ GIÁO*

Kính tặng hai thi lão Thang Ngọc Pho & Đinh Duy Đang

Thầy Đang luôn có em yêu

Làm cho thiên hạ sớm chiều phát ghen

Sao Ái Tình rất thân quen

Hai thầy đều có các em chung hình

Ai trông cũng rất cảm tình

Ảnh mang dáng dấp bóng hình núi mây*

Trông vào đều thấy ngất ngây

Nhưng tình trong ảnh mỗi Thầy rất riêng

Nhà thơ tôi cũng có duyên

Giao lưu cùng bạn ở miền Chăm Pa

Cùng thầy tắm biển giao hòa

Chung phòng khách sạn một nhà khách thơ**

Mặc cho đầu có bạc phơ

Các em vẫn đợi vẫn chờ Thầy ơi !

Tuổi xanh trai trẻ một thời

Trải bao nhiêu chặng đường đời đã đi

Mấy lời tếu táo kể chi

Chân thành xin tặng để ghi chút tình...

* Nhà thơ Thang Ngọc Pho 88 tuổi, là giáo viên từng dạy học ở Nam Định nghỉ hưu rồi làm Chủ tịch CLB thơ VN thành phố Hà Nội, nay chức Chủ tịch đã chuyển giao cho Ns Văn Quang.

  Nhà thơ Đinh Duy Đang quê Phú Thọ cũng là giáo viên nghỉ hưu tham gia nhiều CLB thơ.

** Tháng 12.2019 nhà thơ Thang Ngọc Pho, Nhà thơ Đinh Duy Đang và Vũ Duy Hưởng cùng đi Ninh Thuận tham dự giao lưu với CLB thơ FB tỉnh Ninh Thuận tại Tháp Chàm - xứ Chăm Pa Phan Rang. 




Thứ Năm, 21 tháng 1, 2021

ĐẠI HỘI NGƯỜI CAO TUỔI

 ĐẠI HỘI NGƯỜI CAO TUỔI CHI HỘI PHỐ ẺN NHIỆM KỲ 2021 - 2026

ĐẠI HỘI NGƯỜI CAO TUỔI CHI HỘI PHỐ ẺN NHIỆM KỲ 2021 - 2026 ĐẠI HỘI NGƯỜI CAO TUỔI CHI HỘI PHỐ ẺN, XÃ MẠN LẠN, HUYỆN THANH BA,TỈNH PHÚ THỌ THÀNH CÔNG TỐT ĐẸP. Ngày 20 - 1 - 2021 chi hội người cao tuổi Phố Ẻn quê tôi tổ chức đại hội để tổng kết những thành tích năm qua và tiến hành bầu BAN CHẤP HÀNH MỚI cho nhiệm kỳ 2021- 2026. Sau các tiết mục văn nghệ đại hội tiến hành theo chương trình : 1.Giới thiệu đại biểu đến dự. 2 .Đọc báo cáo tổng kết. 3. Kết nạp hội viên mới. 4 . Phát thưởng cho các cá nhân có nhiều thành tích. 5.Ban chấp hành cũ từ chức 6.Bầu ban chấp hành mới. 7.Ban chấp hành mới ra mắt nhận nhiệm vụ và hứa hẹn 8.Liên hoan ngọt 9.Chụp ảnh kỷ niệm và chia tay. Đại hội diễn ra trong không khí ấm cúng thân mật đoàn kết.Đại hội thành công tốt đẹp. Nhân đây tôi có bài thơ để động viên chúng ta: SỐNG VUI,SỐNG KHỎE ,SỐNG CÓ ÍCH Sống lâu cao tuổi chứ chưa già Đại hội hôm nay tổng kết mà Năm ngoái đạt bao thành tích tốt Năm nay phương hướng mới đề ra Nhiệm kỳ trước mắt năm năm tới Phấn đấu hết mình để vượt qua Cần nhất sống vui và sống khỏe Vì mình, ích nước, lợi cho nhà DIZIKIMI

Thứ Ba, 19 tháng 1, 2021

DỊ NHÂN VĂN THÙY

 

Tiến Sĩ Chu Văn Sơn Viết Về Văn Thùy !

Những Người yêu Thơ Văn Thùy Xin Mượn Bài Viết Này Như Lời Giới Thiệu Về Dị Nhân Văn Thùy!
****************

Người ấy, trong mạng số, dường như, có… căn lục bát.

Sau khi đọc chậm tất tần tật những gì ông gửi cho, có thể gọi những tập ấy là lục bát toàn tính, tôi cứ mải hình dung về chủ nhân của nó. Tôi nghĩ dại hay Văn Thùy đã lỡ ăn phải bùa ngải gì đó của lục bát, vì thế mà đã bị lục bát ám, lục bát làm, cả làm tình lẫn làm tội. Không thế thì sao cứ loay hoay ban ngày lục bát ban đêm lục nồi như vậy suốt cả đời. Nếu Văn Thùy là một tay đan bồ cót rổ giá giần sàng nong nia dưới bong tre làng, thì lục bát là những nan tre nuộc lạt mà ông lẩn mẩn trau chuốt tối ngày. Nếu Văn Thùy là tay kiếm cá đồng quê, thì lục bát là cái đơm cái đó của gã. Nếu Văn Thùy là một thầy lang, thì lục bát là dao cầu thuyền tán. Nếu Văn Thùy là một thầy cúng, thì lục bát là mõ là chuông. Nếu Văn Thùy là một tay bán quà rong, thì lục bát là tò he, là lạc rang kẹo kéo. Nếu Văn Thùy là một tay chơi cảnh, thì lục bát là cây thế, chim lồng. Nếu Văn Thùy là gã đồng nát, thì lục bát là đôi bồ nan đựng trăm thứ bà rằn. Nếu Văn Thùy là tay buôn rươụ quê, thì lục bát là những be sành, bầu nậm nút lá chuối khô… Tôi cứ hình dung, sáng ra ở quê Ân Thi, Hưng Yên, thức dậy, người có tuổi như Văn Thùy phải đun một ấm nước, chiêu một ngụm trà, thì lục bát là chén trà đó; phải bắn một điếu thuốc lào, thì lục bát là thứ thuốc lào đó; rồi phải xơi một chút gì lót dạ đại loại như nắm xôi đồ, bắp ngô luộc, bát cơm rang, quả trứng lộn…thì lục bát là thứ lót dạ đó của Văn Thùy. Một người như Văn Thùy, buổi trưa quê cần ngả lưng, kê đầu lên cái gối mây đan( trơn lì mồ hôi và có cả cáu bám khe nan nữa), phe phẩy chiếc quạt mo (về vệt vết tay cầm), lim dim đánh một giấc giữa nhà ngói gốc mít, thì lục bát là cái gối mây đan, là cái quạt mo đó. Một người như Văn Thùy, để giãn xương cốt, vào đêm quê, phải tợp một chén rượu thuốc (ngâm cả rễ củ lẫn ngũ xà, tam xà), thì lục bát là cái chén rượu nồng nồng, tê tê, ghê ghê đó… Đọc Văn Thùy, đôi khi tôi còn hình dung ông như một con bệnh kinh niên của lục bát, một ca bệnh mãn tính của lục bát nữa. Lục bát đã nhiễm vào hồng cầu bạch cầu của Văn Thùy rồi. Một người cứ dan díu tằng tịu đánh đeo với lục bát hết ngày dài lại đến đêm thâu như vậy, chẳng phải là dị nhân hay sao! Ấy là trời cho mà cũng là trời hành vậy.

Đành rằng Văn Thùy là cây bút nặng nghiệp lục bát, đành rằng lục bát của Văn Thùy nghiêng về phong cách dân gian (điệu nói) chứ không phải cổ điển (điệu ngâm), nhưng những ví von miên man mà tôi cố tìm cho thật hợp với hình dung của mình kia chưa làm tôi thỏa mãn lắm. Văn Thùy vừa là thế, vừa có gì khác thế. Đến khi sực nhớ đến hình ảnh đầy ấn tượng của nghệ nhân Hà Thị Cầu, thì tôi thấy ưng liền. Phải, nếu xem Văn Thùy là một nghệ nhân hát xẩm ở chợ quê, thì lục bát của ông là cây nhị tự biên tự đẽo mà diễn được mọi nông nỗi của lòng thơ đó và khéo chơi vẫn ánh lên những âm giai sáng giữa một nền âm hưởng âm u.

Văn Thùy rất tự biết về sở trường cùng cái thân thế lục bát của riêng mình, khi kiêu bạc tuyên ngôn: Kệ thơ son phấn cấp cao| Ta hong mấy mẹt ca dao ruột vàng/ Mặc người chữ nghĩa xênh xang/ Ta khênh lục bát giữa làng đọc chơi. Hoặc: Dứt phăng sợi chữ tân thời/ Xe thành lục bát nối lời ru xưa. Hoặc: Nhịp hành khúc của người ta/ Mình gam La thứ mình ca giọng mình/ Thơ người bác học cung đình/ Chữ mình tấm cám thì mình ca dao. Lục bát Văn Thùy cũng xoay quanh hai mạch tình: tình đời- mạch thứ và tình tang- mạch chủ. Tình đời là những ấm lạnh, đổi dời, dâu bể trong thế thái nhân tình quê- tỉnh, tỉnh- quê ở cái thời kinh tế thị trường; là tâm niệm kẻ sĩ dân gian đời mới vẫn khăng khăng tin quan nhất thời dân vạn đại, vẫn một mực khinh giàu mà trọc, trọng nghèo mà sang, vẫn ghét cay ghét đắng thói kim tiền; hay những cám cảnh đoái thương cho phận người nhỏ nhoi như những giọt người chìm nghỉm trong bể giời này…Giọng Văn Thùy ở đấy rất lợi thế khi trào phúng, giễu nhại, nhưng cũng không thiếu những lâm li, than thở, ngậm ngùi: Chẳng làm con sáo sang sông/ Chị thành một giọt người trong bể người/ Anh nằm đâu ở góc trời/ Chị tôi đứng vậy suốt đời khói nhang. Đọc mà se xót bởi thấy ở hình ảnh ấy thân phận bao góa phụ trong cõi nhân gian không chỉ riêng thời chiến tranh trận mạc. Còn tình tang là những ỡm ờ bóng gió, những lúng liếng lẳng lơ, những đắm mây dạt đò, những trêu hoa ghẹo nguyệt, những cậy bướm nhờ ong, những lườm cây nguýt lá…cứ liên khúc tình trường mọi cổng ngõ sân vườn của lục bát Văn Thùy. Ở mạch này, Văn Thùy tỏ ra rất dân gian (hay rất gian?) khi chỉ nhất tâm thường trụ trước vẻ đẹp của gái một con: Ra ngõ gặp gái một con/ Xòe tay đậy mắt kẻo mòn con ngươi; Sao đành làm gái một con/ Để cho phỗng đá liếc mòn con ngươi. Không chỉ ve gái một con mà còn “ quấy rối” cả ni sư đã nhập cõi Thiền: Em ăn mày phật cửa Chùa/ Tôi thành hành khất bốn mùa yêu chay… Và luôn tỏ ra là tri kỷ của Thị Màu: Ngai vàng cung điện vùi sâu/ Sân đình vẫn diễn Thị Màu ghẹo sư… Do đây là tiếng lòng sung nhất của gã thi sĩ lục bát dạo, lục bát rong này mà người ta thấy trong tình tang của Văn Thùy có một nét phổ biến: cái bạo sấn sổ trước cái ngã, cái tinh nghiêng ngả trước cái thô, cái thanh chịu trận cùng cái tục… Âu cũng là cái cách ghẹo tình táo tợn mà Văn Thùy đã thừa hưởng từ những chàng nông phu xưa, kiểu như: Gặp đây anh nắm cổ tay/ Anh hỏi câu này có lấy anh không. Thì phát huy một phần thô mộc ấy cũng là một cách …cao dao chứ sao! Nó làm nên sắc thái Văn Thùy. Cho nên, cũng không hiếm khi bạo- nhã, tinh – thô, thanh- tục ở Văn Thùy nuột ra trò: Em còn mặc cả gốc mai/ Quay ra người bán mất hai cành đào/ So đo nụ thấp nụ cao/ Chợ tan còn cặp má đào đợi phai… nhưng xem ra, khi nhuyễn đến nền nã thế, cái văn khí của Văn Thùy lại mờ đi thì phải?

Dấn thân vào cuộc lục bát này, hay theo cách của chính Văn Thùy là Từ ngày đốc chứng làm thơ/ Khôn ngoan vốn mỏng ngẩn ngơ thêm dày, ông đã làm xong cái việc khó này: thác mình vào thơ mình. Người ta thấy trong đó có một chút Nguyễn Bính, một chút Nguyễn Duy, một chút Đồng Đức Bốn, Một chút Phạm Công Trứ, lại một chút Bút Tre… nhưng những xoang điệu hơi hướm người khác vẫn không phủ mờ được hình cốt Văn Thùy. Ấy là một Văn Thùy bám chặt hương hỏa ca dao, ăn đong với đời thường, bán sỉ đời mình cho thơ, bán lẻ đời mình cho từng cặp lục bát. Một Văn Thùy cỏ rả mà ngang ngạo. Mà ngạo nhất là cứ ngang nhiên mang cỏ rả của mình ra mà phơi giữa làng, giữa đình, giữa đời thế. Ngỡ là mặc cảm té ra ngạo ngầm. Cái ngạo của kẻ rành về loại giá trị ưa khuất lấp ngay trong vẻ tầm thường. Cho nên, Văn Thùy có một cái nhìn nhất quán khi vịnh vật là: chọn những vật hèn mọn nhom nhem để ngắm rồi làm óng lên ở đó những nét tinh hoa bằng một khẩu khí kiêu bạc. Viết về rạ rơm, cơm nguội, bèo bọt, khố đùm…là thế. Toàn những thứ đời khinh khi, nhưng lại ẩn chứa những vẻ chớ có xem thường. Có màu vẻ nghe kinh cả người. Bèo thì: Nông sâu trong đục ngược xuôi/ Lục bình vẫn hứng mây trời mênh mang, Nước non dâu bể thường tình/ Xác ta cứ nổi hồn mình cứ trôi. Mẻ thì: Chó chết không thể thiếu ta/ Mẻ đưa đám chó táng qua bụng người. Khố thì: Phô nứt đố, lộ vách nghèo/ Biết đâu váy lĩnh cởi theo khố đùm. Lúc đậm lúc nhạt, khi lộ khi ẩn, nhưng đó âu cũng là cái tinh thần thẩm mỹ kiểu chùa rách phật vàng của dân gian vậy.

Văn Thùy sớm đánh cược với lục bát , nên đã nhập mình rất nhanh vào phong trào phục hưng lục bát gần đây cũng như cặp kè đi lại với chiếu Lucbat.com Có cái không khí lục bát sôi nổi ấy, hẳn ông thấy mình đỡ lẻ loi. Nhưng không có nó, Văn Thùy vẫn cứ là mình, nghĩa là vẫn độc diễn theo cách cũ, vẫn cui cút hành nghề lục bát tự tung tự tác từ A đến Z vậy thôi. Ông thạo các ngón nghề lục bát từ láy âm, phối nhịp, hiệp vần, chơi chữ, tiểu đối, đến dàn lời, giãn ý, dùng tiếng đơn tiếng đôi, chùm ba chùm bốn… rồi những ví von quê kiểng, liên tưởng quê mùa, tu từ quê cách…chiêu nào cũng chơi sạch. Vì thế, Văn Thùy hành nghề như một ông lang vườn, nhưng lại thông thạo y lý, y luật. Dẫu có thực hành thơ như một nghệ nhận lục bát rong, lục bát dạo, thì tay viết vẫn đua phô thi pháp nhà nghề. Tuy nhiên, không thể không thấy trong sáng tác của Văn Thùy, lắm lúc mải tỉa tót chữ nghĩa mà cái khéo của con chữ làm mờ đi cái tình của con tim. Tôi nghĩ Văn Thùy là một ca điển hình của lục bát nghiệp dư vươn lên tầm chuyên nghiệp. Ấy cũng là nét độc đáo Văn Thùy.

Dường như trút tất tật những tài tình có được vào lục bát mà Văn Thùy luôn xem nó là nghĩa lý duy nhất của đời mình. Ông cũng đầy âu lo trăn trở, khi nghĩ đến “hậu sự” chẳng biết rồi ra có được ai người tri nhận cảm thương không: Bây giờ hoặc mốt mai sau | Biết ai vuốt mắt cho câu thơ buồn. Đúng là, một khi đã trót ném mình vào thơ phú, thì dù kẻ hên người xui, kẻ lăn lóc nẻo này, người chìm nổi chốn kia, cũng không thể không xót xa cho thân phận vốn mong manh của cái tài cái tình trong cõi văn chương mờ mịt này.

Bây giờ thì tôi tin lòng thơ của Văn Thùy đã như cái ấm trà của những tay nghiện trà ở chốn quê, cao trà năm này sang năm khác cứ bám dày, két chặt khắp lòng ấm, chỉ cần vài thìa nước thật sôi rót vào là hương lục bát đã nhấp nhứng bay lên rồi. Xem đó là dạng lục bát nằm lòng hay bảo là phải lòng lục bát đây? Thì cũng thế, rành mạch quá mà làm gì, bởi đằng nào thì nó cũng là Văn Thùy cả thôi mà!

Chu Văn Sơn

Nguồn http://www.daovien.net/t5908-topic
Bài gửiTiêu đề: Lục bát Văn Thùy    Lục bát Văn Thùy  I_icon13Fri 23 Mar 2012, 00:36

Văn Thùy - Thi sĩ đường phố

Lục bát Văn Thùy  3.+VIA+HE

Nhà thơ Văn Thùy quê ở thị trấn Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, ông luôn thoắt ẩn thoắt hiện như chính thơ mình.
Người ta đã gán cho Văn Thùy những cái tên: lục bát giang hồ, nhà thơ vườn hoang, lãng tử thi, dị nhân đạo sỹ, quái nhân hiệp khách, thu thủy chữ, cửu vạn chữ,...

Nếu Văn Thùy là một tay đan bồ cót rổ giá giần sàng nong nia dưới bóng tre làng, thì lục bát là những nan tre nuộc lạt mà ông lẩn mẩn trau chuốt tối ngày. Nếu Văn Thùy là tay kiếm cá đồng quê, thì lục bát là cái đơm cái đó của gã. Nếu Văn Thùy là một thầy lang, thì lục bát là dao cầu thuyền tán. Nếu Văn Thùy là một thầy cúng, thì lục bát là mõ là chuông. Nếu Văn Thùy là một tay bán quà rong thì lục bát là tò he, là lạc rang kẹo kéo (TS Chu Văn Sơn).
Văn Thùy, luôn và hằng tự giới thiệu mình trong các tập thơ chép tay bán đắt như tôm tươi là Hợp tác xã thơ Hồn Rơm.
Thơ Văn Thùy được gọi là thơ bút lông vì ông già 70 cái hom hem này có biệt tài trình bày thơ lục bát của mình bằng thư pháp rất đẹp. Và không ai có thể tin rằng “anh già” này đã “bịa” ra vô số câu thơ tình cực hay làm ngơ ngẩn lòng người.
Những cặp lục bát tài hoa được Văn Thùy thể hiện ngọt như mía lùi, nhẹ như tên và tự nhiên như... ruồi. Chữ nghĩa không cầu kì, uốn éo, văn phong đa dạng, lúc phảng phất hồn thơ Nguyễn Bính, nhưng không man mác, nhè nhẹ mà rất mạnh. Mảng thơ thế sự thì quyết liệt, đáo để, bỗ bã, chữ nghĩa “tử tế” và tung hoành. Đến báo chí cũng phải công nhận, Văn Thùy là người chuyên “chế tạo” ca dao và “sản xuất” thơ sạch.
Người ta thấy trong thơ ông một chút Nguyễn Bính, một chút Nguyễn Duy, một chút Đồng Đức Bốn, một chút Phạm Công Trứ, lại một chút Bút Tre…, nhưng những xoang điệu hơi hướm người khác vẫn không phủ mờ được hình cốt Văn Thùy. Ấy là một Văn Thùy bám chặt hương hỏa ca dao, ăn đong với đời thường, bán sỉ đời mình cho thơ, bán lẻ hồn mình cho từng cặp lục bát.
Chúng tôi xin trích giới thiệu một số câu thơ / bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Văn Thùy.

***


Dăm bài dở mếu dở cười
Nội soi chữ, thấy nhiễm lời thằng khôn

Em đi mấy bước nữa rồi
Dẫm chồng lên vết hôn hồi mới yêu

Vừa ban thông điệp yêu đương
Bỗng dưng cả bộ dát giường động kinh

Có gì mạnh đến lạ thường
Yêu suông đã bốn chân giường còn hai

Từ ngày sa đọa làm thơ
Khôn ngoan thêm mỏng ngẩn ngơ thêm dày
Đam mê là tội giời đày
Càng béo chữ nghĩa càng gầy niêu cơm

Đâu như em thích tôi rồi
Mẹ cha đã cử nụ cười trực ban

Trưa nay nắng nẩy mầm rồi
Mắt em sao lại đâm chồi mưa ngâu.

Em nguyền khổ hạnh ăn chay
Tôi thề uống cạn đắng cay cõi trần

Thôi em cố gắng ở nhà
Lá chanh cứ thái đùi gà cứ băm
Tôi đi rước chữ vài năm
Cưới xong lục bát về nằm ru em

Kệ thơ son phấn cấp cao
Ta hong mấy mẹt ca dao ruột vàng
Mặc người chữ nghĩa xênh xang
Ta khênh lục bát giữa làng đọc chơi.

Dứt phăng sợi chữ tân thời
Xe thành lục bát nối lời ru xưa.

Nhịp hành khúc của người ta
Mình gam La thứ mình ca giọng mình
Thơ người bác học cung đình
Chữ mình tấm cám thì mình ca dao.

Xin làm một tiếng chuông chiều
Cho em thỉnh một lần yêu lỡ làng
Gửi em mấy sợi rơm vàng
Để em buộc lỏng mơ màng gió mây.

Chẳng làm con sáo sang sông
Chị thành một giọt người trong bể người
Anh nằm đâu ở góc trời
Chị tôi đứng vậy suốt đời khói nhang.

Ra ngõ gặp gái một con
Xòe tay đậy mắt kẻo mòn con ngươi

Sao đành làm gái một con
Để cho phỗng đá liếc mòn con ngươi.

Em ăn mày Phật cửa chùa
Tôi thành hành khất bốn mùa yêu chay…

Em còn mặc cả gốc mai
Quay ra người bán mất hai cành đào
So đo nụ thấp nụ cao
Chợ tan còn cặp má đào đợi phai

Từ ngày đốc chứng làm thơ
Khôn ngoan vốn mỏng ngẩn ngơ thêm dày

Bây giờ hoặc mốt mai sau
Biết ai vuốt mắt cho câu thơ buồn

Một mai hóa cát bụi rồi
Biết ai hú vía cho tôi thơ tình

Người đi đan lát cao sang
Tôi ngồi rút sợi trăng vàng dệt thơ
Người xa xa đến mịt mờ
Người gần thì cứ giả vờ như xa.

Cho tôi sờ áo một lần
Đêm nay bất chấp tử thần gọi tên
Một lần thôi chẳng vòi thêm
Chạm tay vạt áo khát thèm đã tan
Đã âm thầm nỗi yêu khan
Một phen mó áo vô vàn ngẩn ngơ
Hãy tin những tín đồ thơ
Yêu chay nên chỉ dám sờ áo thôi
Ngón tay ngọng mấy đốt rồi
Kể là chín ngón hỏng mười cũng xong
Áo gì cứ mỏng mòng mong
Kiểu này rồi đến phải lòng mất thôi
Rủi mai hóa cát bụi rồi
Hú hồn đốt mã cho tôi áo này
Vía van lang bạt cõi mây
Thương tôi đừng mặc áo dày được không

Đêm qua em đúng là em
Còn tôi thì lại chả thèm giống tôi

Hoàng hôn đậy bớt nét cười
Sợi trăng buộc lỏng hai người gần nhau

Em nguyền khổ hạnh ăn chay
Tôi thề uống cạn đắng cay cõi trần.

Vướng vào đôi mắt lá răm
Đi bộ cũng tội quanh năm đắm đò.



Thứ Bảy, 16 tháng 1, 2021

VỊ ĐỜI


 VỊ ĐỜI

BÀI XƯỚNG của NGUYỄN HUY VỤ

CHÉN ĐẮNG

Thời buổi niềm tin dễ đổi thay.

Tưởng rằng vĩnh viễn bỗng lung lay.

Thượng lưu đàng điếm lăng nhăng khắp.

Trí thức lưu manh bát nháo đầy.

Đạo lý người trên mồm ráo hoảnh

Luân thường lớp dưới mặt như ngây.

Lương tâm giống tựa dòng sông cạn.

Ai uống cùng ta chén đắng này…

HV 14/01/2018 

VỊ ĐỜI

Bài họa 

Hàng ngày thức uống bữa thường thay

Trà đặc, cà phê, rượu ngất ngây

Lắm lúc nhâm nhi từng ngụm nhỏ

Nhiều khi xả láng chén vơi đầy

"Nhất tâm thiền định"*tâm theo Phật

"Bất biến vạn lôi"** dạ chẳng lay

Ta sống với niềm tin cuộc sống 

An nhiên thanh thản giữa đời này

Chú thích

* Nhất tâm thiền định 

** Vạn lôi bất biến 

VỊ ĐỜI

Bài họa 

Hàng ngày thức uống bữa thường thay

Trà đặc, cà phê, rượu ngất ngây

Lắm lúc nhâm nhi từng ngụm nhỏ

Nhiều khi xả láng chén vơi đầy

"Nhất tâm thiền định"*tâm theo Phật

"Bất biến vạn lôi"** dạ chẳng lay

Ta sống với niềm tin cuộc sống 

An nhiên thanh thản giữa đời này

Chú thích

* Nhất tâm thiền định 

** Vạn lôi bất biến

(Câu của Phật : Ý nói nếu ta có một lòng kiên định thì hàng ngàn tiếng sấm cũng chẳng lay!

ĐỜI LÀ THẾ 

Thay mãi chi mà cứ mãi thay

Ngây vì rượu đế mặc vì ngây

Cạn khi chén tạc dùng khi cạn 

Đầy lúc ly vui đụng lúc đầy

Nhất trí bên nhau nên trí nhất

Lay không chuyển được bởi không lay

Sống cuộc đời say trong cuộc sống

Này mong đắc ý thỏa mong này 

Nguyễn Trọng Nghĩa

UỐNG RƯỢU CẦN

 UỐNG RƯỢU CẦN

Thị Nở @ ở mãi với Chí Phèo nên cũng biết uống rượu và làm được bài thơ mời tôi họa .Tôi họa và mời Thị đến dịp này cùng về Đất Tổ để uống rượu.

Bài xướng của Thị Nở @

UỐNG RƯỢU CẦN

Hãy chọc đi anh nước ứa đầy

Ta cùng hưởng trọn phút nồng say

Men tình đã ủ từ khi ấy

Gạo ý còn ngâm đến lúc này

Ngất ngưởng lơ ngơ bừng khoé mắt

Bơ phờ rạo rực rúm bàn tay

Nhìn nhau chẳng nói mà sung sướng

Uống nữa cho vui thoả tháng ngày

Thị Nở @

.........................................

Bài hoạ của Dinh Dzuy Dang Dang

SAY

Rít đi khi rượu hãy còn đầy

Cho thỏa cơn "yêu" lúc đắm say

Anh ghé đầu xanh về phía ấy

Em nghiêng má thắm lại bên này

Mím môi , ngậm miệng, nheo đôi mắt

Gác vế, kề vai, nắm cổ tay

Càng khoái bao nhiêu càng mạnh vít

"Yêu" đêm chưa phỉ lại "yêu"ngày

DIZIKIMI

https://m.facebook.com/dinhdzuydang.dang/albums/1129706147054153/?ref=content_filter

DIZIKIMI
https://m.facebook.com/dinhdzuydang.dang/albums/1129706147054153/?ref=content_filter




Thứ Năm, 14 tháng 1, 2021

MONG TRỜI ẤM LẠI

 MONG TRỜI ẤM LẠI

Rét sao quá thế hả Đông ơi ?

Ngót tháng nữa thôi Tết đến rồi !

Thời tiết thế này hay lạnh nữa

Chỉ cần quây tụ ở nhà thôi

Bánh chưng luộc lắm không lo mốc

Giò lụa gói nhiều chẳng sợ ôi

Ăn hết tháng Giêng trời ấm lại

Hội hè bung mở lại đi chơi

DIZIKIMI



Thứ Ba, 12 tháng 1, 2021

PHÊ BÌNH LÝ LUẬN

 PHÊ BÌNH LÝ LUẬN

Lại bàn về chuyện ai là người “Một đời cúi đầu bái hoa mai”?

Từ năm 1972 cho tới nay đã có nhiều học giả, qua tập Yên thiều bút lục mới sưu tầm và vài nguồn tư liệu khác, đưa ra nhận định: Câu đối “Thập tải luân giao cầu cổ kiếm/ Nhất sinh đê thủ bái mai hoa” là của tri phủ Ngải Tuấn Mỹ người Hoa tặng phó sứ Nguyễn Tư Giản khi sứ bộ Việt Nam ghé lại địa phương này chứ không phải của Cao Bá Quát.

Lại bàn về chuyện ai là người “Một đời cúi đầu bái hoa mai”?
Ảnh: internet

Tuy nhiên, nguồn tư liệu chính Yên thiều bút lục vốn làn bản chép tay rất có thể “tam sao thất bổn”, xét về mặt văn bản học là đáng ngờ. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Phan dưới đây sẽ đưa ra thêm nhiều khía cạnh khác để chứng minh rằng: Hai câu thơ trên vẫn là của Cao Bá Quát. Dĩ nhiên, qua đây vẫn tiếp tục mở ra nhiều hướng khai thác thú vị. Sông Hương giới thiệu bài viết này để bạn đọc rộng đường tham khảo.  

 
HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN  

Vào khoảng năm 1969, học giả Hoa Bằng, công bố 4 cặp câu đối của Cao Bá Quát mà ông đã sưu tầm được từ cụ Đỗ Mộng Khương (cử nhân khoa Ất Mão 1915) và cụ Đoàn Như Khuê, (1883 - 1957 nhà nghiên cứu Hán Nôm), trong đó có câu:

Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa

(Phỏng dịch: Lặn lội mười năm tìm kiếm báu/ Cúi đầu một thuở bái hoa mai).

Từ đó phát hiện này được phổ biến rộng rãi trong các tài liệu văn sử học và các sách giáo khoa. Nhiều người ngưỡng mộ Cao Bá Quát, yêu văn học và yêu hoa mai đã sao, chép, viết lại hai câu trên bằng chữ Hán để treo trong phòng khách, thư viện.

Thế nhưng ba năm sau cũng chính học giả Hoa Bằng trên tạp chí Văn Học (Số 2 - tháng 3 - 4 - Hà Nội 1972) lại công bố một phát hiện mới theo đó câu đối nói trên không phải của Cao Bá Quát mà là của một người Hoa là Ngải Tuấn Mỹ, tri phủ Hán Dương tỉnh Hồ Bắc (Trung Quốc) tặng phó sứ Nguyễn Tư Giản khi sứ bộ Việt Nam ghé lại địa phương này. Cụ Hoa Bằng dũng cảm nhận trước đây mình đã nhầm lẫn, nay xin đính chính. Ngoài Hoa Bằng còn có nhà nghiên cứu Tảo Trang cùng chủ xướng việc đính chính này. Từ đó, không ít người ngậm ngùi đính chính theo. Luận chứng của những người đính chính dựa trên một tài liệu là tập Yên thiều bút lục mới sưu tầm được từ bản sao chép tay của thư viện Khoa học xã hội ký hiệu là A. 852 - tờ 18 a-b. Nội dung tài liệu đính chính được dẫn chứng như sau:

“Năm Mậu Thìn (1868) vua Tự Đức cử một sứ bộ sang Tàu. Cầm đầu là chánh sứ Lê Tuấn (đỗ Hoàng Giáp năm 1853); phó sứ là Nguyễn Tử Giản (đỗ Hoàng Giáp năm 1844); phó sứ thứ 2 là cử nhân Hoàng Tịnh. Hành trình của sứ bộ theo lối xưa từ ải Nam Quan đến Yên Kinh, thủy bộ mất 181 ngày. Sau 125 ngày thì đến huyện thành Hán Dương tỉnh Hồ Bắc, ở đó đoàn Sứ bộ Việt Nam được viên tri phủ Hán Dương là Ngải Tuấn Mỹ đón tiếp và tặng các vị chánh, phó sứ mỗi người một câu đối.

- Câu đối tặng chánh sứ Lê Tuấn:
Hữu khẩu tu ngôn thiên hạ sự/ Kháng hoài bất nhượng cổ chi nhân
(Có miệng nên bàn việc thiên hạ/ Nghị lực không chịu nhường người xưa.)
- Câu đối tặng phó sứ Nguyễn Tử Giản:
Thập tải luân giao cầu cổ kiếm/ Nhất sinh đê thủ bái mai hoa
(Mười năm giao du tìm thanh kiếm cổ/ Một đời cúi đầu bái hoa mai).
- Câu đối tặng phó sứ Hoàng Tịnh:
Truyền thần cổ hữu Lý Tư Huấn/ Vấn tự kim vô Dương Tử Vân
(Truyền thần xưa có Lý Tư Huấn/ Hỏi chữ nay không Dương Tử Vân.)”

Nếu chỉ dựa vào bấy nhiêu tài liệu đó thì theo tôi, sự đính chính của các cụ Hoa Bằng và Tảo Trang chưa thực sự thuyết phục. Xin nêu một số điểm nghi vấn như sau:

Về mặt văn bản, Yên thiều bút lục của Thư viện Khoa học xã hội chưa phải là bản gốc mà chỉ là bản sao từ bản sao chép tay vào khoảng thập niên 1930 của Viện bác cổ Pháp. Nghe nói bản gốc nhiều tờ đã rách nát không đọc được. Hồi đó chưa có kỹ thuật photocopy và microfilm nên các bản sao đều phải chép tay. Yên thiều bút lục lại là một tập tài liệu khá lộn xộn. Theo bài viết: “Về tác phẩm Yên thiều thi văn tập của Nguyễn Tư Giản” của nhà nghiên cứu Hoàng Văn Lâu - (hannom. org. vn - web//tchn/data/0003-a. htm) thì: “... Yên thiều thi văn tập, bản A. 199 là bộ sưu tập gồm 3 tác phẩm: Yên thiều thi thảo, Yên thiều văn thảo, Trung Châu quỳnh giao tập của Nguyễn Tư Giản đã được nói tới trong Truyện Nguyễn Tư Giản của Đại Nam liệt truyện, chỉ khác ở chỗ: Đại Nam liệt truyện ghi Yên thiều thi thảo 3 quyển thì ở bản A. 199 chia thành hai quyển: Quyển Nhất và Quyển Hạ; Yên thiều văn thảo, Liệt truyện ghi quyển 1 thì ở bản A. 199 ghi “Quyển Thượng” (mà không có quyển Hạ), còn Trung Châu quỳnh giao tập thì bản A. 199 không ghi số tập, số quyển, còn Liệt truyện ghi quyển 1. Có thể nghĩ rằng, ba tác phẩm này vốn lưu hành riêng lẻ. Sau này, trong quá trình sao lục, người ta biên tập cả 3 tác phẩm vào một sách, lấy tên chung là Yên thiều thi văn tập...).

Trong bài: “ Về mối liên hệ giữa văn bản học và sử liệu học” đăng trên trang web vanthuluutru. com, Gs Hà Văn Tấn từng lưu ý giới nghiên cứu: “Nói đến văn bản Hán Nôm, tôi thường nghĩ đến các bản sao. Mà tam sao thì thất bản!

Tài liệu về Yên thiều bút lục đã rối rắm như vậy mà lại qua nhiều khâu sao chép, biên tập thì ai dám bảo đảm không có sự tam sao thất bổn? Liệu có thể hoàn toàn tin cậy ở các bản sao chép tay nói trên được không?

Một bên là các cụ Đỗ Mộng Khương và Đoàn Như Khuê nói câu đối là của Cao Bá Quát - một bên là bản sao chép tay (và dầu là bản chính) của cụ Nguyễn Tư Giản nói là của Ngải Tuấn Mỹ. Bất quá cả hai đều là ý kiến một phía. Một khi văn bản về các tác phẩm của cụ Nguyễn Tư Giản chưa đủ tin cậy thì dựa vào đâu mà phủ nhận ý kiến của phía cụ các Đỗ Mộng Khương, Đoàn Như Khuê và bảo lưu ý kiến của phía cụ Nguyễn Tư Giản?

Tính xác thực của văn bản Yên thiều bút lục càng đáng nghi ngờ hơn nữa khi ta xét đến mối liên hệ giữa văn bản và sử liệu mà Gs. Hà Văn Tấn đã nêu. Cụ thể:

- Theo lệ xưa, nước ta cứ ba năm phải đi sứ sang Tàu một lần để tiến cống. Do thời cuộc lộn xộn ở cả hai nước nên chuyến đi sứ của các ông Lê Tuấn, Nguyễn Tư Giản và Hoàng Tịnh cách chuyến đi sứ trước đó những 15 năm. Phủ Hán Dương tỉnh Hồ Bắc của Trung Quốc lại cách biên giới nước ta những 125 ngày đường. Với khoảng cách thời gian và không gian diệu vợi đó, làm sao một ông tri phủ người Hoa ở Hán Dương lại nắm rõ mồn một lý lịch và hành trạng của cả ba nhân vật trong sứ bộ của một nước mà cho đến lúc ấy, họ vẫn còn cho là “man di”, lại vừa ở xa đến và làm thơ tặng mỗi người một bài như thử họ là bạn tri kỷ từ muôn kiếp trước?

- Câu đối nói là của Ngải Tuấn Mỹ tặng chánh sứ Lê Tuấn ý tứ rất chung chung, vừa là lời khuyên, vừa là lời khen rất là vô thưởng vô phạt, có thể dùng để tặng bất kỳ vị sứ thần nào, kể cả các vị đại sứ thời nay. Vậy câu này không có gì phải bàn.

- Câu đối Ngải Tuấn Mỹ tặng phó sứ Hoàng Tịnh có lời lẽ đề cao vị phó sứ của chúng ta tài thi họa sánh bằng Lý Tư Huấn thời Bắc Tống, chữ nghĩa hơn hẳn Dương Tử Vân - là những danh nhân văn hóa hàng đầu của Trung Quốc. Vậy mà sao ngay ở Việt Nam xưa nay lại không thấy có tài liệu văn sử học nào nói về tài năng kiệt xuất của phó sứ Hoàng Tịnh?

- Trong khoa văn bản học, còn có một phương pháp để góp phần xác minh tác giả và tác phẩm. Đó là đối chiếu nội dung thơ văn với hành trạng, thân thế sự nghiệp của tác giả dựa trên nguyên tắc: Văn tức là Người. Trên quan điểm biện chứng đó, ta hãy xét lại hai câu:

Thập tải luân giao cầu cổ kiếm/ Nhất sinh đê thủ bái mai hoa

để xem thử văn chương ấy thích hợp với nhân thân của Cao Bá Quát hay Nguyễn Tư Giản.

+ Trong thơ văn Cao Bá Quát, hình ảnh thanh kiếm thường xuất hiện như một biểu tượng của chí nam nhi. Ví dụ trong bài “Tài tử đa cùng phú”: “... Để ta đeo vòng thư kiếm, quyết xoay bạch ốc lại lâu đài...” Hoặc tả sông Hương ở Huế: “Trường giang như kiếm lập thanh thiên” (Sông dài như kiếm dựng giữa trời xanh). Dĩ nhiên thanh kiếm của Cao Bá Quát không phải là thứ vũ khí của sát thủ trong truyện kiếm hiệp mà là thứ bảo kiếm của người quốc sĩ mưu việc lớn. Đó là thứ nguyên nhung kiếm mà Trương Lương trao tặng Hàn Tín trong cuộc chiến Hán Sở tranh hùng: “Một ngọn đèn chong/ Hai ngọn đèn chong/ Quốc sĩ vô song/ Là ngươi Hàn Tín...” Trong hình ảnh thanh kiếm của Cao Bá Quát đã thấp thoáng hoài bão nổi dậy của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương sau này. Phải chăng đó cũng chính là thứ “cổ kiếm” mà tác giả câu thơ “Thập tải luân giao...” đã mất mười năm lặn lội đi tìm?

Còn cụ Nguyễn Tư Giản? Cụ làm quan suốt 40 năm, trải 7 đời vua nhà Nguyễn, chứng tỏ cụ rất biết phục tùng vương pháp. Trong cuộc biến động Thất thủ Kinh đô ở Huế năm 1885, vua Hàm Nghi xuất bôn còn cụ thì chạy sang phía cố đạo đại Việt gian Trần Lục để nương thân. Khi tên đại quan tay sai của thực dân Pháp là Nguyễn Hữu Độ khánh thành ngôi đền thờ sống của y, cụ làm thơ, viết câu đối đề bia tâng bốc y lên tận mây xanh:

Tứ hải phong trần chi hậu, doãn tạ hiền lao (Đương lúc bốn bề gió bụi, nhờ cái công khó nhọc của ông mới định được đại cục).

Cửu chân sơn thủy chi linh, đĩnh sinh anh kiệt (Khí thiêng sông núi ở quận Cửu chân (Thanh Hóa) sinh ra người anh kiệt).

Về sau, Nguyễn Tư Giản mất ở Kim Sơn, cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến có viếng câu đối như sau:

Nhất bi tuyệt bút sinh từ hạ (Một bài văn bia ở sinh từ (Nguyễn Hữu Độ) là tuyệt bút).
Thiên cổ du hồn Cự lĩnh gian (Ngàn năm hồn còn phảng phất ở vùng Cự lĩnh).

Câu trên nhắc chuyện Nguyễn Tư Giản làm văn bia ở sinh từ, tâng bốc Nguyễn Hữu Độ quá mức cần thiết. Câu dưới có chữ Cự Lĩnh là hang ổ của bọn Trần Lục. Cụ Nguyễn Khuyến nhắc lại hai việc ấy có ý mỉa mai chê trách Nguyễn Tư Giản. Người “hiền” như cụ Nguyễn Tư Giản, không phải là dân chơi kiếm thì lặn lội mười năm đi tìm cổ kiếm để làm gì? Chẳng lẽ để chống lại triều đình Huế và bọn gian tà Trần Lục, Nguyễn Hữu Độ? Thanh cổ kiếm ấy gắn với khẩu khí của Cao Bá Quát thì thích hợp hơn.

Thanh cổ kiếm đã không thể dành cho Nguyễn Tư Giản thì câu “Một đời cúi đầu trước hoa mai” cũng vậy. Hoa mai thì vô số người thích nhưng nếu nói Nguyễn Tư Giản thích đến một đời cúi đầu bái hoa mai thì khó tìm thấy bằng chứng niềm đam mê này trong thơ văn của cụ.

Với Cao Bá Quát thì ngược lại, có khá nhiều dẫn chứng:

- Giai nhân nan tái đắc/ Trót yêu hoa nên dan díu với tình/ Mái tây hiên nguyệt gác chênh chênh/ Rầu rĩ lắm xuân về oanh nhớ... (Hoài nhân).

Trong bài bài Tài mai:

- Đầu non nắm hạt mai gieo
Giống thanh gửi chốn núi đèo xanh tươi
Nữa mai xuân điểm bầu trời
Bức tranh tuyệt tác cho người xem chung

(Trồng mai- Hoàng Tạo dịch thơ chữ Hán)

Và trong bài thơ gửi bạn Phương Đình Nguyễn Văn Siêu:

- Khóm trúc vườn xưa chờ thu đến/ Bụi mai gác nhỏ một mình trông.

Hoặc:

- Những bản thảo cũ đầy bụi, chất đống trong bồ rách
Cây mai con cũng cố ngoi lên vượt bức tường cao.

(Kiến Bắc nhân lai, nhân thoại cố hương tiêu tức)

Rồi khi ở trong cảnh lưu đày, có người ngoài Bắc vào, sau khi biết tin tức gia đình, ông hỏi cây mai sau nhà còn sống không? Người khách cho biết, cây vẫn tốt tươi và ông yên tâm đưa vào thơ của mình: Cây mai đã lớn, vẫn sau nhà... Mới đây trên trang web vanchuongviet. org có bài bài tiểu luận “Cao Bá Quát: một đời lận đận vì hoa” của Văn Thành Lê có câu “Mấy phen vào tội ra tù, lên voi xuống chó, con người tự ví mình như cây mai võ, như con chim có sức bay cao mà bị nhốt trong lồng không thể cam lòng chịu để cho sóng gió cuộc đời vùi dập vẻ sáng lấp lánh của hai chữ Thiên lương...”. Cũng trong bài này, tác giả Văn Thành Lê gọi Cao Bá Quát là “cây mai võ của làng Phú Thị”. Tôi cảm nhận được rằng những danh từ thư kiếm và mai võ trong thơ văn Cao Bá Quát có sự đồng dạng, đồng thanh và đồng khí với những danh từ cổ kiếm  mai hoa trong câu đối “Thập tải luân giao...” và điều này cho phép tôi càng tin rằng Cao Bá Quát là tác giả của câu đối ấy. Câu đối ấy như chiếc áo-rất có thể mặc vừa với Cao Bá Quát và rất không vừa với Nguyễn Tư Giản. Nói “Văn tức là Người” ý là như vậy. Tôi cũng xin nhấn mạnh một lần nữa rằng: Hai câu Thập tử luân giao cầu cổ kiếm/ Nhất sinh đê thủ bái mai hoa chứa đầy tâm tư, hoài bão sâu kín là dạng tự bạch của tác giả. Người ngoài, nhất là ông Ngải Tuấn Mỹ nào đó ở bên Tàu chắc không dám hư cấu sẵn câu đối như vậy để tặng vị sứ thần ở xa tới. Hư cấu kiểu đó chẳng khác gì tặng vị khách quý của mình một chiếc áo mà không chắc khách đã mặc vừa.

Vậy thì sau đây tôi xin thử nêu một kiến giải khác:

- Như chúng ta biết, lúc sinh thời Cao Bá Quát sáng tác rất nhiều. Sau khi ông bị án tru di, tác phẩm của ông trở thành văn tự quốc cấm, lưu lạc trong dân gian. Giả sử ai có lòng trân trọng gìn giữ những tác phẩm ấy, không nỡ để nó thất truyền chắc cũng không dám công khai tên tác giả là Cao Bá Quát vì sợ mắc tội với triều đình. Còn những người “thích đùa” thì muốn để bút hiệu nào thay cho Cao Bá Quát mà chẳng được? Có khi nào câu đối “Thập tải luân giao...” rơi vào số phận bèo dạt mây trôi nói trên không?

Thú thật, tôi chỉ là kẻ hậu học, lại mù Hán Nôm mà lạm bàn chuyện này thì thật là điếc không sợ súng. Chỉ mong được các bậc cao minh giải mã giùm những tồn nghi nói trên, may ra có thể trả lại công bằng cho Cao Bá Quát - cũng là trả lại hào khí cho thanh bảo kiếm của người quốc sĩ và trả lại thanh khí cho loài hoa mai của người nghệ sĩ.

H.P.N.P

Các bài mới
Các bài đã đăng